Kỹ năngPhoenix HoReview sách

Cứ Đi Để Lối Thành Đường – Phoenix Ho

Cứ đi – để lối thành đường là những thao thức, những trải nghiệm sống động, những chia sẻ chân tình, tâm huyết của một người chọn nghề tư vấn hướng nghiệp làm tình yêu và lẽ sống của mình. Điều quan trọng nhất không phải là cố gắng không thay đổi mà chính là tìm ra điểm bất biến trong thế giới mau thay đổi này: đó là hiểu rõ bản thân.

Cứ Đi Để Lối Thành Đường - Phoenix Ho
Cứ Đi Để Lối Thành Đường – Phoenix Ho
Tên tiếng Việt: Cứ Đi Để Lối Thành Đường 
Tác giả: Phoenix Ho
Thể loại: Kỹ năng
Số trang: 256
Trình bày: Bìa mềm
Nhà xuất bản: Nhà Xuất Bản Thế Giới

Không nghe không hỏi không nhất định là đã quên, song chắc chắn là đã xa cách. Cả hai trầm lặng quá lâu, đến chủ động cũng cần có dũng khí.

 

 

Có thể bạn sẽ tìm được trong sách:
– Hướng nghiệp là một hành trình
– Hướng nghiệp và tâm an

Qua lối viết mang màu sắc “đối thoại”, qua ý kiến phản hồi của các đối tượng được tư vấn, cùng những lời tự sự của chính tác giả được viết như trải lòng, người đọc có thể cảm nhận rất rõ: tác giả là người nhiệt thành, tâm huyết, tự tin, am hiểu tâm lý đối tượng, có tâm và có tầm nhìn về chuyện hướng nghiệp. Độc giả cũng có thể dễ dàng cảm nhận được “tình yêu tiếng Việt” rất đáng trân trọng qua cách viết của một người vốn quen tư duy bằng Anh ngữ. Chính vì thế, đọc “Cứ đi – để lối thành đường”, độc giả có thể thu nhặt nhiều nhận xét bổ ích, có dịp suy nghĩ thêm về nhiều vấn đề thú vị được gợi nêu từ kinh nghiệm tư vấn hướng nghiệp cụ thể của tác giả, chẳng hạn như những ám ảnh về “giấc mơ của cha”, những khác biệt về tâm lý, về bối cảnh hướng nghiệp giữa các thế hệ mà tác giả mong muốn đóng vai trò hòa giải, kết nối bằng “nhịp cầu tư vấn hướng nghiệp”. Nhưng có lẽ điều khiến cho cuốn sách có sức hấp dẫn riêng và có khả năng truyền cảm hứng cho người đọc, trước hết nằm ở chính thái độ dấn thân nhiệt thành, ở cách xem công việc tư vấn hướng nghiệp như lẽ sống hay niềm vui sống của tác giả. Đó là sức hấp dẫn, là nét đẹp của một con chim lửa tự đốt mình lên để không chỉ hồi sinh, không chỉ tỏa sáng cho chính mình, mà còn tỏa sáng và sưởi ấm cho những người đang dấn bước trên hành trình khám phá những năng lực, những khát vọng tiềm ẩn của bản thân.

Trong hành trình đó, tác giả tỏ ra rất tự tin khi đồng hành cùng với những bạn trẻ được chị tư vấn. Chị tự tin không phải vì cho rằng mình đã sở hữu được “kho đáp án có sẵn” cho những băn khoăn liên quan đến việc chọn ngành, chọn nghề; cũng không phải vì chị đã rèn được “chiếc chìa khóa vạn năng” cho vấn đề hướng nghiệp, mà vì trong sâu thẳm, chị đã nhận ra: hướng nghiệp là một hành trình tìm kiếm, chọn lựa không ngừng, không phải chỉ chọn lựa một lần, và cũng không có chọn lựa duy nhất đúng. Từ góc độ tâm lý cá nhân, chị đề cao, khuyến khích những chọn lựa phù hợp với nguyện vọng, hứng thú, năng lực, khí chất, tính cách, giúp phát triển nhân cách, giúp mỗi người tự phát hiện được con người mình muốn trở thành, con người biết thích ứng và biết thỏa mãn khi thấy tâm an.

Giảm giá sách 30% khi mua online tại Tiki: Link mua sách

Nhà SáchĐơn giáLink mua sách
Tiki66000 Mua sách online tại Tiki
Fahasha61620 Mua sách online tại Fahasha
Vinabook70000 Mua sách online tại Vinabook
Shopee58500 Mua sách online tại Shopee

Trích đoạn:
Em chọn ngành gì?

Sẽ có những ngày như hôm nay, khi tôi đùa với bạn đồng nghiệp rằng “there is no full moon this week”(*), vì các ca tư vấn hướng nghiệp tôi gặp trong tuần phần lớn là nhẹ nhàng, đòi hỏi ít thời gian, và sinh viên rời phòng với nét mặt hớn hở vì họ đã tìm ra câu trả lời cho vấn đề của mình.

(*) There is no full moon this week có nghĩa là tuần này trăng không hề tròn. Trong ngành tâm lý có nhiều người tin rằng hôm nào trăng rằm thì các bệnh nhân tâm lý sẽ bị nặng hơn ngày thường. Do đó, chuyên viên tư vấn thường hay đùa với nhau rằng “Hôm nay trăng tròn à?” mỗi khi gặp ca khó.

Tuần này, câu hỏi tôi thường gặp nhất là “Làm sao em biết được ngành học em chọn phù hợp với em hở cô?”. Và câu hỏi mà tôi sẽ hỏi ngược lại họ luôn là “Vì sao trước đây em chọn nó và vì sao bây giờ em lại lo rằng nó không phù hợp với mình?”. Câu chuyện tiếp theo đó của mỗi người không hoàn toàn giống nhau, nhưng thường có những điểm chung sau:

• Các em và gia đình chọn ngành dựa trên giả định rằng mỗi ngành học sẽ dẫn đến một nghề nghiệp nhất định. Ví dụ: sinh viên tốt nghiệp ngành Kế toán sẽ làm nhân viên kế toán hay kiểm toán; sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị sẽ làm công việc quản lý doanh nghiệp; v.v…

• Các em và gia đình quyết định dựa trên mức độ an toàn hay sự hấp dẫn của một nghề nghiệp nào đó ở thời điểm hiện tại. Ví dụ: lĩnh vực kế toán hiện nay có vẻ ổn định và cần nhiều nhân lực; lĩnh vực tài chính hơi có vẻ phiêu lưu và không cần nhiều nhân lực như cách đây 3 năm; lĩnh vực truyền thông nghe tên có vẻ là lạ, do đó hơi phiêu lưu mạo hiểm khi chọn nó; v.v…

Để giúp các em quyết định, tôi thường cùng các em phân tích một bản mô tả công việc đang được đăng trên các trang tuyển dụng, sau đó các em tự đưa ra được kết luận:

• Bản mô tả công việc chủ yếu đòi hỏi những kỹ năng mà ứng cử viên cần có chứ không phải tên ngành mà sinh viên đã được đào tạo. Ví dụ, kỹ năng viết, nói, đọc, và nghe tiếng Anh thông thạo, kỹ năng tổ chức một sự kiện tầm trung, kỹ năng lên kế hoạch và theo dõi những chi tiết trong kế hoạch ấy,…

• Trong bản mô tả công việc, ngoài những kỹ năng chuyên môn mà một sinh viên rèn luyện được trong chương trình học, họ còn bị đòi hỏi rất nhiều các kỹ năng mà sinh viên không được đào tạo trong lớp. Ví dụ, kỹ năng làm việc với áp lực liên tục, kỹ năng thích ứng với môi trường thay đổi nhanh,…

Tiếp theo, tôi trình bày với các em hiện trạng của thị trường tuyển dụng:

• Có rất nhiều công việc mới được tạo ra mỗi ngày. Ngược lại, cũng có rất nhiều công việc biến mất mỗi ngày.

• Không có ai có khả năng dự đoán chính xác được nhu cầu tuyển dụng trong tương lai vì điều này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố của kinh tế toàn cầu, kinh tế vùng, kinh tế quốc gia, tình hình chính trị, những quyết định chiến lược về kinh tế và chính trị ở cấp quốc gia, v.v…

• Điều duy nhất người lao động (các em trong tương lai) có thể nắm chắc là những kỹ năng mà mình rèn luyện, cùng với mạng lưới chuyên nghiệp(*) mà mình xây dựng được trong suốt thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường.

(*) “Mạng lưới chuyên nghiệp” mô tả những người làm việc ở trong hay ngoài ngành nhưng biết đến bạn, biết đến khả năng, sở thích, phong cách làm việc,… của bạn. Càng nhiều người biết đến bạn ở khía cạnh chuyên nghiệp thì cơ hội bạn tìm kiếm công việc làm phù hợp sẽ càng cao. Vì vậy, bắt đầu từ những năm tháng sinh viên, mỗi người phải bắt đầu xây dựng mạng lưới chuyên nghiệp của mình bằng cách tham gia các hoạt động ngoại khóa, đi làm thêm, tham dự các cuộc thi, v.v…

Vì lý do đó, trước khi quyết định chọn ngành học, sinh viên nên tìm hiểu thật kỹ ngành học mà bạn quan tâm, đọc cẩn thận thông tin mô tả học phần của từng môn, nếu có thể thì dự thính một lớp, hoặc trò chuyện với các anh chị lớp trên đang học ngành ấy. Sinh viên nên quyết định dựa trên các yếu tố sau:

• Em thấy hứng thú với những kỹ năng mà em sẽ được đào tạo trong ngành ấy;

• Em tự tin sẽ có khả năng phát triển tốt những kỹ năng ấy;

• Em có thể học tập trong thời gian dài (3, 4 năm) mà không chán ngành ấy.

Sau đó, khi đã chọn ngành học, suốt thời gian học, em phải luôn tự hỏi những kỹ năng nào mình nổi trội nhất, quan sát trong thị trường tuyển dụng xem các công việc nào sẽ cần những kỹ năng mình có và sẽ học được, đánh giá xem mình còn thiếu những kỹ năng nào, và tìm hiểu các hoạt động ngoài giờ học nào sẽ giúp mình bổ túc những kỹ năng ấy.

Nói ngắn gọn, một ngành học ở trường không quyết định ta sẽ làm công việc gì. Thay vào đó, những kỹ năng ta học được trong và ngoài chương trình học, từ mạng lưới chuyên nghiệp mà ta xây dựng được suốt thời gian học, và tình trạng của thị trường tuyển dụng lúc ta ra trường sẽ quyết định ta làm công việc nào trong tương lai.

Chúc các em vững vàng trong quyết định của mình, và đừng quên rằng kết quả không quan trọng bằng quá trình. Hãy sống thật tốt mỗi ngày trong hiện tại, tương lai sẽ không đáng sợ lắm đâu.

Trích đoạn:
Viết về khả năng ra quyết định

Trong ngành tư vấn hướng nghiệp, vai trò của nghiên cứu rất quan trọng. Muốn được tin tưởng và có tiếng nói, phải có nghiên cứu làm điểm tựa đằng sau phát biểu của mình. Cũng trong ngành này, người làm công tác nghiên cứu lấy đề tài nghiên cứu từ những người đang hành nghề, như tôi chẳng hạn. Lý do là vì chúng tôi cọ xát với công việc và con người trong công tác hàng ngày, do đó chúng tôi có cơ hội nắm bắt và hiểu những vấn đề mới nhất sớm nhất. Từ những quan sát của chúng tôi, người nghiên cứu sẽ đặt giả thiết rồi đi tìm chứng cứ xác nhận hay phản biện. Sau đó, kết quả nghiên cứu ra đời, và những người hành nghề sẽ dựa vào các kết quả để làm công việc tư vấn tốt hơn, hiệu quả hơn.

Sáu tháng gần đây tôi cứ loay hoay với câu hỏi sau: “Nhóm sinh viên mà tôi đang gặp gỡ và hỗ trợ hiện tại ở Đại học RMIT Việt Nam (sinh ra ở những năm 1995-1999) có đặc điểm gì chung?”. Tôi vẫn nhận ra các em khác những anh chị sinh trước mình vài năm một cách rõ rệt, ví dụ như các em không còn bị cha mẹ ép buộc nhiều (như các lứa trước đây) phải học theo một ngành nào đó, để sau này làm một công việc nào đó. Ví dụ như tính cách các em thoải mái hơn, hoạt bát hơn, vô tư hơn (so với các lứa trước đây). Nhưng những quan sát đó vẫn chưa đủ cho vị trí tư vấn hướng nghiệp của tôi. Tôi cứ có cảm giác như điều tôi tìm kiếm vẫn còn lẩn quất đâu đó, có lẽ vì các em có ít chất liệu để tâm sự hơn, những câu hỏi các em đặt cũng ít trúc trắc hơn. Cũng có thể các em cho tôi cảm giác những vấn đề các em gặp phải khá nhàn nhạt, bàng bạc, vì hình như các em cũng chưa hiểu vấn đề của mình là gì nữa.

Chỉ đến hai tuần gần đây tôi mới nhìn thấy được sợi chỉ xuyên suốt các vấn đề hướng nghiệp của nhóm sinh viên này, đó là khả năng ra quyết định. Các em cực kỳ sợ phải chọn lựa và ra quyết định nghề nghiệp, như học ở đâu, học ngành gì, học nhiều hay ít, có làm thêm hay tham gia hoạt động xã hội không. Có em còn tâm sự thà rằng em bị cha mẹ ép phải học ngành gì còn dễ chịu hơn là cho em quyền tự do quyết định. Bởi vì khi phải ra quyết định, em cảm thấy bị áp lực và thấy sợ hãi.

– Giả thiết đầu tiên của tôi là nhóm bạn trẻ này từ nhỏ đến lớn đã quen với việc được sắp xếp bởi gia đình và nhà trường. Cuộc sống của các em từ năm lớp 1 cho đến năm lớp 12 giống như một chương trình được thiết lập sẵn. Các em học ở trường, khi về nhà học thêm để chuẩn bị cho những kỳ thi vượt cấp. Trong trường, ngoài các môn văn hóa, các em không có nhiều cơ hội tham gia những hoạt động khác như nhạc, họa, thể thao, hội học sinh, hoạt động xã hội, v.v… và v.v… Toàn bộ sức lực và sự chú ý của các em, được nửa khuyến khích nửa ép buộc từ phía gia đình và nhà trường, đổ vào việc học văn hóa. Do đó, các em ít có cơ hội phải ra quyết định cho đời sống hàng ngày, vì phần lớn đã được sắp xếp và quyết giùm em rồi.

– Giả thiết thứ hai của tôi là cha mẹ của nhóm bạn trẻ này là thế hệ sinh ra ở cuối những năm 50 đến đầu những năm 70. Thế hệ này tuy trưởng thành trong thời kỳ hậu chiến nhưng bắt đầu phát triển sự nghiệp ở những năm đất nước Việt Nam mới mở cửa với thế giới bên ngoài sau một thời gian dài bế quan tỏa cảng (sau 1985). Vì vậy họ vừa có những đặc điểm của thế hệ trước đó, là coi trọng sự an toàn và ổn định trong nghề nghiệp, lại vừa cởi mở hơn, cho phép con cái chọn lựa các ngành học mới. Thêm nữa, vì rất bận rộn mưu sinh, họ gần như rất ít có thời gian gần gũi, theo dõi sự phát triển về tinh thần của con, mà tập trung vào việc kiếm tiền để cải thiện đời sống kinh tế của gia đình. Đối với họ, cho con cái được những giá trị về vật chất rất quan trọng, và đôi khi vì vậy họ quên đi rằng sự nuôi dưỡng về giá trị tinh thần cũng quan trọng không kém cho các em.

– Giả thiết thứ ba của tôi là cha mẹ của nhóm bạn trẻ này, vì cực khổ trong thời kỳ trưởng thành, phải giúp gia đình ra đời bươn chải sớm để mưu sinh, nên đối với con cái của họ, họ ngoài đòi hỏi trách nhiệm học giỏi ra, thì ít có những đòi hỏi khác như làm việc nhà, giúp kinh tế gia đình, phụ cha mẹ trong những lo âu cũng như gánh nặng khác. Họ lo lắng hết tất cả, và khi về nhà, chỉ mong con cái được bình an, bảo bọc, hạnh phúc. Chỉ cần học giỏi và vâng lời, còn lại mọi cái họ không đòi hỏi nhiều.

Dựa trên ba giả thiết trên, tôi kết luận rằng nhóm bạn trẻ mà tôi đang hỗ trợ, vì thiếu cơ hội ra quyết định, làm lỗi, học từ lỗi lầm, cũng như thiếu cơ hội trải nghiệm, tiếp xúc với cuộc đời ngoài lăng kính học tập, tạo cho các em thành thói quen rằng tất cả quyết định quan trọng đều đã được làm sẵn cho mình. Kết quả là khi bước chân vào ngưỡng cửa trường đại học, nơi mà bỗng dưng các em thành người lớn, phải làm tất cả mọi quyết định từ nhỏ đến lớn như học bao nhiêu môn, học ngành gì, nếu không hợp thì đổi ngành gì, kết bạn với ai, tham gia nhóm hoạt động nào. Bên cạnh đó, các em có rất nhiều sự tự do như có thể không vào lớp vì không ai điểm danh, bắt đầu những mối quan hệ sâu hơn bạn bè vì ít bị kiểm soát hơn, tự quản lý thời khóa biểu vì giờ học không như dưới trung học, v.v…

Các bạn trẻ trong nhóm này vừa thích vừa sợ những thay đổi này, vì chưa biết cách cư xử sao cho tốt nhất.

Điều họ lo lắng nhất là những lỗi lầm có thể xảy ra vì quyết định của bản thân. Họ thường dựa vào những lời khuyên của bạn bè, cũng là những người chưa rõ ràng lắm về bản thân, để ra quyết định. Họ làm vậy vì khi có một ai đó giúp mình quyết định, họ vẫn thấy an tâm hơn.

Từ những quan sát trên, tôi nghĩ rằng để hỗ trợ cho nhóm sinh viên ở lứa tuổi này, điều quan trọng là:

1. Hướng dẫn cho các em những kỹ năng liên quan đến việc lập quyết định như kỹ năng suy nghĩ tư duy, kỹ năng suy nghĩ chiến lược, và kỹ năng phân tích vấn đề.

2. Khuyến khích các em tìm hiểu những giá trị quan trọng nhất đối với bản thân, vì khi biết rõ điều gì quan trọng nhất với mình các em sẽ dễ dàng ra quyết định hơn.

3. Cho các em thấy rằng lỗi lầm là một phần tất yếu của cuộc sống và sự phát triển. Khi đã suy nghĩ kỹ, đã phân tích xong, hãy quyết định theo giá trị của mình. Rồi nếu quyết định ấy không phù hợp lắm cho bản thân, thì hãy học hỏi từ kinh nghiệm ấy, để lần sau ra quyết định tốt hơn.

Ghi chú của tác giả: Đây chỉ là những quan sát đầu tiên, và tôi nghĩ chắc phải mất vài năm nữa tôi mới biết những giả thiết của mình có chính xác hay không. Những tháng ngày gần đây, các em thuộc thế hệ sinh ra trong những năm 1988-1992 quay lại tâm sự, trò chuyện, chia sẻ tâm tư và cuộc hành trình của họ. Những gì các em kể tôi nghe chứng thực các giả thiết trước đây của tôi khá chính xác. Mong rằng một ngày không xa tôi có thể bắt đầu làm nghiên cứu về để tài hướng nghiệp cho giới trẻ Việt Nam. Còn bây giờ, tôi chỉ có thể đưa ra những kết luận dựa vào quan sát và trực giác của một người hành nghề, điều mà cá nhân tôi cho rằng không thua nghiên cứu số liệu là bao.

 

 

Download sách Cứ Đi Để Lối Thành Đường miễn phí: Link tải sách
(Thông báo link hỏng hoặc yêu cầu sách dưới comment)

REVIEW SÁCH Cứ Đi Để Lối Thành Đường TÁC GIẢ Phoenix Ho

CÙNG TÁC GIẢ

Để tôi Google giúp bạn nhé:
Review sách “Cứ Đi Để Lối Thành Đường”
Tóm tắt sách “Cứ Đi Để Lối Thành Đường”
Trích đoạn hay trong “Cứ Đi Để Lối Thành Đường”
Mua sách “Cứ Đi Để Lối Thành Đường” ở đâu?
Mua sách “Cứ Đi Để Lối Thành Đường” ở đâu rẻ nhất?
Tải sách “Cứ Đi Để Lối Thành Đường” miễn phí
Danh mục sách của tác giả “Phoenix Ho”

Related Articles

Back to top button