Đạt ChíHuyền QuangLịch sửReview sáchUncategorizedXuân Khôi

Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử – Huyền Quang

Kể từ thượng cổ thời đại cho đến thời đại cận kim, cuộc bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa lúc nào cũng tỏ ra rất khăng khít. Một khi những cuộc chiến tranh xẩy ra đã tạm yên rồi, người Việt Nam lại phải cố gắng gây tình hòa hiếu với Trung Hoa cho yên mặt bắc. Với một số cư dân quá ít ỏi so với Trung Hoa, người Việt chẳng dại gì lại gây hấn với ông bạn láng giềng to lớn và mạnh mẽ hơn mình gấp trăm lần.

Góc nhìn sử Việt - Việt Hoa bang giao sử - Huyền Quang
Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử – Huyền Quang
Tên tiếng Việt: Góc nhìn sử Việt - Việt Hoa bang giao sử 
Tác giả: Huyền Quang- Xuân Khôi- Xuân Khôi
Thể loại: Lịch sử

Luôn luôn khao khát được học điều gì đó hữu ích. – Sophocles

 

 

Có thể bạn sẽ tìm được trong sách:
Việt – Hoa bang giao sử chỉ là những tấn kịch đã hạ màn

Kể từ nhà Ngô trở đi, nước Việt Nam ta mới thực sự hoàn toàn bước vào giai đoạn tự chủ. Nước ta đã thoát hẳn cái ách ngoại xâm và lệ thuộc vào những gã phiêu lưu phương Bắc. Tuy vậy, không phải chúng ta đã dứt được hẳn những mối liên hệ với Trung Hoa. Nền văn hóa Trung Hoa đã có ảnh hưởng sâu xa mật thiết vào văn hóa nước Việt, cho nên các triều đại tự chủ, Việt Nam vẫn phải mở mang cuộc bang giao hòa hiếu với họ.

Từ khi Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, đem văn minh Tàu sang truyền bá ở phương Nam, cho nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn minh ấy. Học thì toàn dùng Tứ thư, Ngũ kinh và triết lý Khổng, Mạnh. Giấy mực và sách vở cũng mua ở Tàu, hấp thụ nền văn hóa Trung Hoa đến cội rễ, nên các vua ta cũng sợ Trung Hoa tuyệt giao với mình. Ta chỉ sợ nếu sợi dây bang giao đứt, Trung Hoa sẽ không bán sách vở, điền khí và đồ sắt cho ta nữa.

Mặc dầu những cuộc xung đột diễn ra, nhưng khi tấn kịch tranh thủ hạ màn, thì Việt Nam lại sang Tàu và vua Việt Nam lại nhận tước phong. Mỗi một lần thắng trận xong, vua Việt Nam muốn giữ tình giao hảo cố hữu ấy lại phải phái Tuế cống sứ sang Tàu. Tấn kịch mâu thuẫn ấy cứ luôn luôn diễn ra, kẻ chiến thắng thường phải cầu hòa và thần phục kẻ chiến bại. Ngoài ra nước Việt phải đem hết sức mình ra để áp đảo và mưu cuộc bình trị ở phương Nam, nên ta không thể luôn luôn có một lực lượng hùng hậu để cự với những đạo quân dũng mãnh của Trung Hoa được. Bởi vậy, chúng ta đã thần phục ông bạn Bắc phương chẳng qua là để tâm chú trọng vào cuộc Nam tiến. Khuất phục kẻ mạnh để xúc tiến tự cường bên trong, đó chẳng qua cũng là mánh khóe ngoại giao của các triều vua nước ta vậy.

Giảm giá sách 30% khi mua online tại Tiki: Link mua sách

Nhà SáchĐơn giáLink mua sách
Tiki Mua sách online tại Tiki
Fahasha46020 Mua sách online tại Fahasha
Vinabook47000 Mua sách online tại Vinabook
Shopee Mua sách online tại Shopee

Trích đoạn:
Năm Thiên Phúc thứ 7 (987), Tống Thái Tông phái Lý Giác sang sứ Việt Nam. Vua Đại Hành liền sai Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (tục gọi sư Thuận) cải trang giả làm lái đò ra đón ở chùa Sách Giang. Sứ giả Lý Giác vốn là một nhà thơ, thấy trên sông từng đôi chim thiên nga tung tăng bơi lội, bất giác nổi thi hứng, tức khẩu hai câu thơ:

Nga nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hà thiên nhai.
Thiền sư Đỗ Pháp Thuận ứng khẩu nối tiếp hai câu:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bài thanh ba.

……

Phải chăng đó là một mánh khóe tự kiêu trong cách giao thiệp của một người đã từng chiến thắng về quân sự để nêu thanh danh cho Tổ quốc.

Trích đoạn:
An Thạch có ý muốn lập công ngoài biên, bèn sai Lưu Di kinh lý việc đánh Giao Châu, Lưu Di sai người đi biên các khe ngòi, đồn lũy, sửa binh khí, làm thuyền bè và lại cấm không cho người ở châu huyện gần đấy đi lại buôn bán với người Giao Châu.

Lý triều thấy sự tình như thế, mới viết thư sang hỏi Tống triều, song Lưu Di giữ lại không để về kinh, Lý triều tức giận, sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đan đem quân sang vây đánh Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu và giết hại quân, dân nhà Tống đến 10 vạn người, rồi lại bắt người lấy của đem về nước.

Năm Bính Thìn (1076); quân Tống sang đánh báo thù. Lý Thường Kiệt đem binh cự địch, đánh chẹn được quân Tống ở sông Như Nguyệt (làng Như Nguyệt ở Bắc Ninh, tức sông Cầu bây giờ). Quân Tống đến đóng ở bờ sông Phú Lương.

Hai bên chiến đấu dữ dội, quân Tống không tiến lên được. Quân Tống bị chết quá nửa vì không phục thủy thổ, nên phải lui về chiếm giữ châu Quảng Nguyên, châu Tư Lang, châu Tô, châu Mậu và huyện Quảng Lang (thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn bây giờ).

Đến năm Mậu Ngọ (1078), Lý Nhân Tông sai sứ giả Đào Tôn Nguyên đưa voi sang cống nhà Tống và đòi lại những châu huyện ở mạn Quảng Nguyên. Vua Tống bắt phải trả những người châu Khâm, châu Liêm và châu Ung mà quân nhà Lý bắt về ngày trước, rồi mới trả châu huyện cho nhà Lý. Vua ta y lời tha cho về cả, tổng số gồm 221 người thì vua nhà Tống trả lại châu Quảng Nguyên.

Mùa hạ năm Giáp Tý (1084) Nhân Tông sai quan Binh bộ Thị lang là Lê Văn Thịnh sang nhà Tống bàn việc chia địa giới. Lê Văn Thịnh phân giải mọi lẽ, nhà Tống lại trả nốt mấy huyện mà trước còn giữ lại. Từ đó nước Tàu lại mở cuộc giao bang hòa hảo như cũ.

Trích đoạn:
Trong đời Tiền Lê (980-1009), nhà Lý (1009-1225)23, các triều vua vẫn thường theo gót nhà Đinh, phái sứ giả sang cống hiến nước Tàu. Cống phẩm thời bấy giờ gồm có: vàng bạc, châu báu, tê giác, ngà voi, bạch phấn y hương, giáng chân hương, trầm hương, tốc hương, mộc hương, hắc tuyến hương, chỉ phiến, tự giáng hương, hạt cau (binh lang), sa nhân, chu sa, tô hợp dầu, v.v..

Trích đoạn:
Năm Ất Hợi (1275), Trần Thánh Tông nhận chiếu của nhà Nguyên, nhưng không chịu bái mạng, lại không trọng đãi thiên sứ. Nguyên Thế Tổ25 biên thư sang trách. Thánh Tông sai Lê Đà và Đinh Củng Viên sang sứ để biện bác. Thấy sứ thần Việt Nam vào chầu, vua Mông Cổ thét hỏi:
– Các ngươi là sứ thần Nam Man phải không?

Đinh Củng Viên đáp:
– Tâu Thiên triều, xứ mọi rợ mới là “Man”. Nước Đại Việt chúng tôi là nước văn hiến xưa nay, chưa từng tranh bờ lấn cõi nước nào, cũng không hà hiếp ai, không thể gọi là “Man” được. Chúng tôi là sứ thần Đại Việt chứ không là sứ thần Nam Man.

Nguyên Thế Tổ thấy trả lời có vẻ xàm báng liền hỏi:
– Nam chúa nhà các ngươi không biết sức mình sao mà lại dám ngạo nghễ với Thiên triều?

Đinh Củng Viên cứng cỏi đáp:
– Chúa chúng tôi vẫn chịu thần phục Thiên triều, mới phái chúng tôi sang cống hiến, sao lại gọi là ngạo nghễ?

– Vậy, sao chiếu thư của trẫm đến nơi, chúa các ngươi không chịu lạy mà cũng không trọng đãi thiên sứ?

– Lễ bái chẳng qua là hư văn, che mắt thiên hạ. Chúa chúng thôi kính trọng Thiên triều, cốt ở trong lòng. Nếu Thiên triều xử nhân đạo, thì dù ngoại quốc chẳng giữ lễ nhưng vẫn kính trọng muôn phần. Không kính trọng thì bầy hương án, áo mũ lễ thì tình cũng chẳng ra gì. Và sứ thần chỉ là một người Thiên triều phái sang. Bệ hạ là vua của một nước lớn, chúa chúng tôi cũng là vua một nước nhỏ, chỉ chịu kém bệ hạ, lẽ nào kém cả bầy tôi Thiên triều.

Nguyên Thế Tổ hầm hầm quát:
– Quân trẫm đi đến đâu tan đến đấy, chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan. Cớ sao vua tôi nhà ngươi lại dám chống cự?

Đinh Củng Viên ung dung tâu:
– Nếu hoàng đế bệ hạ đem nhân nghĩa ra trị thiên hạ, tất ai cũng phải kính phục. Nhưng nếu chỉ cậy binh hùng tướng dũng thì nước nào chẳng có binh, có tướng, có sông núi hiểm trở. Vì thế, nước chúng tôi tuy nhỏ, song cũng đường đột chống cự lại quân Thiên triều.

Trích đoạn:
Thư hòa hiếu sau khi đại bại nhà quân Mông Cổ:
Thế tử nước An Nam, thần mọn là Trần Nhật Huyên trăm lạy sợ sệt liều chết chịu tội dâng thư lên đức hoàng đế bệ hạ mệnh trời dành ngôi. Bằng nay: gió Nam mát mẻ, kính chúc thánh cung nằm ngồi đều đặng vạn phúc, cha con thần mọn quy thuận Thiên triều đã hơn 30 năm nay, tuy thần mang bệnh tật, đường sá xa xôi, bệ hạ bỏ qua không hỏi mà sự cống hiến phương vật, sứ giả sang dâng, chưa hề thiếu thốn.

Năm Chí Nguyên thứ 21, chức Hải nha Bình chương là A Lý gây việc ở biên giới, trái với thánh chỉ. Thế rồi sinh linh nước thần hóa thành bùn than. Sau khi đại quân đã về, thần mọn chắc rằng tình dưới ủng trệ28,miệng lưỡi gièm pha thêu dệt nên tội, mới riêng sai chức Thông thị đại phu là Nguyễn Nghĩa Toàn và Hiệp trung đại phu là Nguyễn Đức Vinh phụng cống các phương vật sang, trước nạp để xin, nghĩ rằng bệ hạ sẽ rủ lòng thương, không ngờ cả mấy người đều không được về.

Mùa đông Chí Nguyên thứ 24, lại thấy đại quân thủy bộ tiến sang, đốt chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian già trẻ, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào là không làm. Thần vì lúc ấy sợ chết, đã trốn tránh trước, thì Ô Mã Nhi Tham chính nói với người trong nước truyền đến tai thần rằng: “Mày chạy lên trời, ta theo lên trời, mày xuống đất, ta theo xuống đất, mày lăn vào nước, ta lăn nước theo, mày băng lên ngàn, ta lăn lên ngàn theo” mọi lời nhục nhã, nói chẳng tiếc miệng.Thần nghe lời ấy lại càng chạy xa, để mong thái tử thương đến, chịu theo lời tình nguyện của nước hèn mà lui đại quân. Ô Mã Nhi Tham chính lại lĩnh quân thuyền riêng rangoài biển bắt hết dân miền duyên hải, kẻ lớn thì giết đi, người nhỏ thì bắt đi, đến nỗi treo trói mổ chặt, đầu lìa khỏi xác. Trăm họ bị bức tử đều nổi lên cái họa chó cùng dứt dậu, thần mọn tự sợ vạ vương, thân hành ra ngăn cấm nhưng vì đường sá không kịp. Rồi thấy trong dân giải đến một người là Tích Lệ Cơ Đại vương tự xưng là thuộc dòng quý thích đại quốc. Thần trong buổi ấy đối đãi ngang hàng, rất là tôn trọng. Kính hay chẳng kính, Đại vương cũng đã hay, đến như Ô Mã Nhi làm việc khốc ngược, Đại vương cũng thấy tận mắt, thần mọn đâu dám nói càn. Nước hèn thần, thủy thổ rất độc, lửa chướng chẳng lành, thần lo rằng Đại vương trú ở đây lâu sẽ sanh bệnh tật, dầu thần phụng dưỡng hết lòng cũng không thể tránh cái tội của kẻ tham lợi ở ngoài ven cõi họ nói gièm vậy.Thần bèn sắm sửa lễ vật đi đường, sai người đi trước đến đầu cõi đưa Đại vương về nước. Cúi trông bệ hạ đức sánh trời đất, ơn quá mẹ cha, trí như đuốc soi khắp nơi tối, sáng khôn có thể hiện ra thật giả, xin rủ lòng thương xét lại, thêm bề khoan nhân, may chi thần được khỏi tội lệ, trọn cái lòng thủy chung thờ nước lớn. Chẳng những thần mọn cùng sinh linh một phương, xương thịt chết sống đều đời đời chịu cái ơn đại tạo sinh thành, mà những nước trong một trời đều được hạnh phúc đội lòng nhân bệ hạ không khi nào hở. Ngoài ra đại quân thất lạc có hơn số nghìn, thần đã phát lịnh cho về rồi. Hoặc sau này nếu có thấy ai, thần cũng tìm kiếm cho về. Nước hèn này gần đây bị binh lửa, nay thêm khí trời còn nóng nực, sứ giả cống vật khó mà hiện ngay được. Xin đợi đến mùa đông sẽ sai sang. Lòng thần khôn xiết, cầu trời lạy đất liều chết phục tội.

Cẩn tấu

Chí Nguyên năm thứ 25 tháng tư

 

 

Download sách Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử miễn phí: Link tải sách
(Thông báo link hỏng hoặc yêu cầu sách dưới comment)

Nhận xét từ bạn đọc:
Sách viết liên miên bất tuyệt, truyện này nối truyện kia. Đoạn đầu đọc có vẻ hơi hụt hơi, nhưng càng đọc lại càng hay. Nhiều tình tiết thư từ ít được đề cập trong sách giáo khoa thì đều có. Rất hay!

REVIEW SÁCH Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử TÁC GIẢ Huyền Quang

CÙNG TÁC GIẢ

Để tôi Google giúp bạn nhé:
Review sách “Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử”
Tóm tắt sách “Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử”
Trích đoạn hay trong “Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử”
Mua sách “Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử” ở đâu?
Mua sách “Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử” ở đâu rẻ nhất?
Tải sách “Góc nhìn sử Việt – Việt Hoa bang giao sử” miễn phí
Danh mục sách của tác giả “Huyền Quang”

Related Articles

Back to top button