Kiến thức thưởng thứcTìm hiểu lịch sửTổng hợp

Những dân tộc nào có tín ngưỡng thờ vua Hùng?

1

Người Việt

Đầu tiên là người Việt, dân tộc đông đảo nhất trong các dân tộc vẫn giữ tục thờ Hùng Vương đến ngày nay. Theo huyền sử của người Việt, các vị vua Hùng đóng đô tại vùng Phong Châu, miền Bắc Việt Nam, trung tâm của nước Văn Lang cổ.

Người Việt là hậu duệ trực tiếp của các vị vua Hùng cũng như văn hóa Đông Sơn, nên các di tích thờ tự và ký ức, truyền thuyết của người Việt thời Hùng Vương là rất nhiều và giàu có: Theo thống kê, thì trên cả nước hiện có khoảng 1.417 di tích có thờ cúng Hùng Vương và các nhân vật thời vua Hùng, riêng Phú Thọ, là kinh đô Phong Châu thời các vua Hùng có gần 330 di tích.

Hằng năm người Việt ở cả 3 miền vẫn tổ chức ngày lễ Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, đây là quốc lễ và là một tín ngưỡng tâm linh rất quan trọng đối với dân tộc Việt. Truyền thuyết về thời Hùng Vương cũng còn lại rất nhiều trong dòng văn hóa dân gian như Lĩnh Nam Chích Quái, các truyền thuyết được lưu truyền đã hoặc chưa được tổng hợp thành sách.

Phù điêu quốc tổ Lạc Long Quân
Phù điêu quốc tổ Lạc Long Quân

2

Người Mường

Người Mường, anh em gần nhất với người Việt cũng có ký ức về các vị vua Hùng. Trong “Hòa Bình quan lang sử lược”, với những thông tin về vua Dịt Dàng đã cho thấy, Vua Hùng cũng là tổ của người Mường và đã được phản ánh trong diễn ca Mường:

Hùng Vương là tổ nước mình
Phong Châu là chốn kinh thành triều đô
Lang từ khởi tổ ngày xưa
Cuối Văn Lang quốc bây giờ đã qua
Mỗi cành con cháu phong ra
Họ chia Đinh, Quách, Bạch, Hà, Xa, Cao

 

 

3

Người Dao

Người Dao cũng tôn thờ các vị vua Hùng như Tổ của dân tộc mình. Trong các bài hát cúng họ đều thành kính nhắc tới Vua Hùng, vua Tổ và họ cũng tự nhận mình là con dân đất Việt.

Người Dao bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17), có lẽ do thời kỳ này người Hán di cư ồ ạt xuống phía Nam Trung Quốc khi nhà Thanh lên nắm quyền tạo sức ép, xung đột với người Dao bản địa

Người Dao vượt biển, băng rừng từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới miền Bắc Việt Nam khá muộn trong lịch sử. Do đó Hùng Vương có thể là ký ức từ xa xưa của họ khi còn ở Hải Nam và Nam Trung Quốc. Cách họ ghi lại về Tổ Hùng Vương cũng thể hiện rõ không phải họ học của người Việt khi tới miền Bắc Việt Nam, mà là một ký ức trong tâm thức của dân tộc họ.

Gặp được vua Tổ tốt lòng
Hướng dẫn người Dao biết làm đồng làm nương
Hai tay con lạy vua Tổ Hùng Vương
Cho con bông lúa chín đỏ đầy nương
Ngô bắp đầy vườn, gia súc đầy sân
Người người sinh sôi, bản làng đông vui
Kính lạy vua Tổ tối linh!

4

Người Choang (Tráng)

Người Choang sống tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, họ có quan hệ gần gũi với người Tày, Nùng ở Việt Nam. Page đã có bài về người Nùng, Choang với lãnh tụ Nùng (Nông) Trí Cao và nước… Đại Nam (trùng hợp nhỉ). Người Choang cũng thờ các vị vua Hùng, cũng tổ chức lễ hội Lạc Việt Vương để tưởng nhớ các vị vua Hùng.

 

 

5

Người Bố Y

Người Bố Y tách ra khỏi người Choang (Tráng) từ khoảng năm 900 (cuối thời Đường), họ sống ở Quý Châu, Vân Nam. Khi bị nhà Thanh đàn áp trong khởi nghĩa Nam Lãng (năm 1797), một bộ phận người Bố Y chạy sang Việt Nam. Người Bố Y cũng tự nhận mình là người Lạc Việt, cũng thờ tự Lạc Việt Vương.

Như vậy, không chỉ người Việt mà còn nhiều dân tộc khác trong vùng Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam ‐ lãnh thổ của nước Văn Lang cũ – vẫn còn gìn giữ ký ức và phong tục thờ tự các vị vua Hùng. Các bằng chứng này cũng góp phần chứng minh sự tồn tại không thể chối cãi của thời kỳ Hùng Vương và các vị vua Hùng.

Bài viết chào mừng ngày giỗ Tổ Hùng Vương, LSTV xin được dâng lên các vị Tổ Hùng Vương những nén hương thành kính nhất, một lòng hướng về đất Tổ với sự biết ơn và trân trọng công lao của các vị Vua Hùng đối với dân tộc!

Theo Lược Sử Tộc Việt

Bài viết gốc: Khảo sử về quốc gia Văn Lang và thời kỳ Hùng Vương

Hùng Vương (chữ Hán: 雄王, chữ Nôm:𤤰雄) là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt. Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) chiếm mất nước. Truyền thuyết về Hùng Vương được ghi chép lại lần đầu tiên vào cuối đời Trần tại Hồng Bàng Thị truyện trong sách Lĩnh Nam Trích quái; sau đó được sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào Đại Việt Sử kí Toàn thư ở cuối thế kỉ XV.

Trong sử liệu Việt Nam, Hùng Vương được nhắc đến trong Lĩnh Nam chích quái (đời Lý-Trần) cùng truyền thuyết Âu Cơ-Lạc Long Quân. Đại Việt sử lược đời Trần cũng có ghi chép “Đời Trang Vương nhà Chu, ở bộ Gia Ninh có người dị nhân, dùng ảo thuật khuất phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương” (có bản dịch là Đối Vương, 碓王). Đại Việt sử ký toàn thư thời Hậu Lê chính thức đưa Hùng Vương làm quốc tổ.

Trong sử liệu Trung Quốc, danh xưng “Hùng Vương” được ghi chép trong sách Thái Bình quảng ký, thế kỷ thứ X, dẫn Nam Việt chí khoảng thế kỷ V: “Vùng đất Giao Chỉ rất màu mỡ, di dân đến ở, thoạt đầu biết trồng cấy. Đất đen xốp. Khí đất hùng (mạnh). Vì vậy ruộng ấy gọi là ruộng Hùng, dân ấy là dân Hùng.” Đoạn này tương tự với miêu tả về Giao Chỉ trong Quảng Châu ký (thế kỷ IV) và Thủy Kinh chú (thế kỷ VI) trích Giao Châu ngoại vực ký thế kỷ IV. Tuy nhiên các sách này không đề cập đến Hùng Vương (雄王) mà chỉ nhắc đến Lạc Vương (雒王).

Truyền thuyết

Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi (anh trai Lộc Tục) là con nối ngôi, cai quản phương Bắc là nước Xích Thần, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, các bộ tộc Bách Việt, gọi là nước Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương khi xuống Thủy phủ, đã lấy con gái Long Vương Động Đình Quân tên là Thần Long Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thay cha trị nước Xích Quỷ, còn Kinh Dương Vương không biết rõ đã đi đâu sau khi truyền vị. Đế Nghi truyền ngôi cho con trai là Đế Lai cai trị phương Bắc, Đế Lai nhân thiên hạ vô sự mà đi chu du khắp nơi, đi qua nước Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, liền lưu con gái của mình là Âu Cơ ở lại đó.

Lạc Long Quân trở về, thấy Âu Cơ xinh đẹp, liền biến hóa thành chàng trai phong tú mỹ lệ, Âu Cơ ưng theo, Lạc Long Quân liền rước nàng về núi Long Trang. Hai người ở với nhau một năm, sinh ra bọc trăm trứng, sinh ra trăm người con trai anh dũng phi thường. Lạc Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ, Âu Cơ vốn là người Bắc quốc, nhớ nhà liền gọi Long Quân trở về. Âu Cơ nói với Lạc Long Quân:

Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với Quân, sinh được một trăm con trai mà không gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng, không vợ, một mình vò võ.

Lạc Long Quân bảo rằng:

Ta là loài rồng, sinh trưởng ở Thủy tộc; nàng là giống Tiên, người trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp mà lại có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con về Thủy phủ, phân trị các xứ, năm mươi con theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe không được bỏ nhau.

Âu Cơ cùng năm mươi người con trai ở tại Phong Châu, tự suy tôn người con trưởng lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương.

Theo Wikipedia

Related Articles

0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Back to top button
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x